RSS

Thử nghiệm mô hình trồng cây ngập mặn ở khu vực các ao nuôi thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu

06 Oct
Hệ sinh thái rừng ngập mặn_Ảnh:Sưu tầm

Rừng ngập mặn (RNM) được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản góp phần cải thiện sinh kế cho người dân và phát triển địa phương. Vai trò của RNM đối với thủy hải sản đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu từ những năm 1969 bởi Odum. Rừng ngập mặn vừa là nơi cung cấp thức ăn cho các loài thủy hải sản, vừa là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, ấu thể của các loài.

Trước đây, nhiều người nuôi trồng thủy sản (NTTS) cho rằng cây ngập mặn gây hại cho các đầm nuôi tôm, cá vì lá cây làm thối nước, rễ cây tạo ra các khí không tốt cho ao nuôi (trong khi nguyên nhân thực là do ít cống thoát, không thay được nước triều đều đặn) nên họ đã chặt phá cây ngập mặn không thương tiếc. Hậu quả là nhiều bờ đê ven các ao nuôi bị vỡ khi có sóng biển và gió bão, ảnh hưởng đến năng suất thủy hải sản; tốn kém chi phí tu sửa đê bờ. Sau khi một diện tích lớn RNM bị phá, ảnh hưởng lớn đến sinh thái, năng suất và dịch bệnh ao tôm cũng như những thiệt hại sau các cơn bão và lũ lụt, một điều mà không ai phủ nhận được là RNM đã bảo vệ rất có hiệu quả các đầm nuôi thủy sản (tôm, cua, cá, v.v).

Sức khoẻ của các loài thủ sản nuôi  ở những đầm quảng canh gần RNM hoặc trồng cây ngập mặn ở xung quanh bờ tốt hơn các đầm trống trải vì cây ngập mặn che bóng cho một phần đầm nên khi trời nắng nóng nhiệt độ nước không quá cao, lượng nước bốc hơi cũng ít hơn đầm không có cây. Nhờ đó mà độ mặn không tăng nhiều gây sốc cho thủy sản. [1]

Một góc rừng ngập mặn Rú Chá-Hương Phong_Ảnh: Sunf

Một số nơi, nguồn tôm giống bố mẹ còn được nuôi từ RNM, các bãi giống được tạo trong ngay các kênh rạch có RNM. Ngoài ra, RNM còn có tác dụng để xử lý các chất phế thải từ các đầm tôm, cá. Các chất phế thải do thức ăn thừa, phân, vỏ tôm, cua, cá từ các đầm đối với môi trường trong và ngoài đầm tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật gây bệnh thủy sản phát triển mạnh. Kết quả nghiên cứu của Ban Nuôi trồng Thuỷ sản (AQD) thuộc Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) (2004) cho thấy khả năng xử lý các phế thải từ các đầm tôm của RNM là rất lớn. 90% nitrogen được vi khuẩn chế biến trong RNM, trong lúc đó các rễ cây vận chuyển đến 90% lượng ôxy do vi sinh vật khoáng hoá.

Các hoạt động NTTS truyền thống như độc canh, quảng canh sau một thời gian dài thể hiện những hạn chế lớn như: năng suất không cao, dịch bệnh tràn lan, chất lượng ao nuôi suy giảm qua mỗi vụ nuôi, đê bờ sạt lở sau bão, và các vấn đề khác. Đây là khó khăn của hầu hết các vùng NTTS trên cả nước. Trước tình hình đó, các địa phương đã tìm nhiều giải pháp khắc phục như nuôi thâm canh, nuôi quảng canh cải tiến, cải thiện ao hồ theo chu kỳ nuôi. Bên cạnh đó, giải pháp sinh thái được chú ý hướng đến trong tương lai là nuôi trồng thủy sản theo mô hình sinh thái, kết hợp trong các RNM sẵn có hoặc trồng thêm các loài cây ngập mặn trong mô hình nuôi sinh thái.

Hiệu quả của hình thức này đã được chứng minh qua nhiều mô hình nuôi sinh thái, đặc biệt là mô hình ở rừng Đước Năm Căn – của Lâm trường 184 (Cà Mau) – đây là khu rừng Đước nuôi tôm sinh thái đạt tiêu chuẩn châu Âu duy nhất trên cả nước. Hướng phát triển này vừa đáp ứng được sự cân bằng về kinh tế và môi trường, vừa tạo ra các sản phẩm sạch theo thị hiếu của thị trường, đặc biệt là thị trường Châu Âu.

Với vai trò to lớn đó của RNM, Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án phục hồi và phát triển RNM giai đoạn 2008 – 2015 (số 405/TTg – KTN ngày 16/3/2009) với nguồn kinh phí khá lớn, gần 2.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ văn bản đến việc thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn là cả một quá trình, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương, cần có sự tham gia tích cực của ngành thủy văn, rất tiếc là trong đề án không hề đề cập đến vai trò của ngành thủy sản và sự đồng thuận cũng như tham gia tích cực của cộng đồng cư dân ven biển.

Hương Phong và Hải Dương là hai xã nằm dọc phá Tam Giang – tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề NTTS đã được phát triển khá lâu. Ví dụ xã Hương Phong có diện tích NTTS gần 210ha [2] và NTTS đóng vai trò quan trọng trong ngành ngư nghiệp cũng như phát triển kinh tế cho địa phương. Cũng như các địa phương khác, hoạt động NTTS ở Hương Phong đã làm mất đi một diện tích RNM đáng kể của vùng – khu vực có diện tích RNM hiếm hoi trong hệ đầm phá Tam Giang với tầm quan trọng về sinh thái cũng như đa dạng sinh học.

Nhờ vào sự hỗ trợ của các chương trình, dự án, các đơn vị nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ (NGOs) về vốn cũng như khoa học kỹ thuật (KHKT), nghề NTTS ở Hương Phong và Hải Dương nói riêng cũng như các vùng thuộc hệ phá Tam Giang – Cầu Hai nhìn chung đang phát triển thông qua các mô hình nuôi xen canh và quảng canh cải tiến nhằm hạn chế các rủi ro trong quá trình nuôi trồng góp phần giúp cho nghề này phát triển ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh đó dịch bệnh và sạt lở bờ đê ao nuôi sau mùa mưa lũ vẫn còn ảnh hưởng lớn đến nghề NTTS của địa phương.

Trước đây, vì muốn mở rộng diện tích NTTS và nghĩ rằng RNM ảnh hưởng xấu đến NTTS, nên một diện tích không nhỏ của rừng Rú Chá đã bị tàn phá. Nhưng hiện nay, nhận thức của người dân về vai trò của RNM đã thay đổi. Họ đã hiểu được tầm quan trọng của RNM đối với môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và mối quan hệ giữa RNM với NTTS nên hầu hết các chủ ao nuôi thủy sản đều có ý muốn trồng các loài cây ngập mặn rễ chống ven các ao nuôi để bảo vệ đê bờ và giúp thông thoáng ao nuôi, giảm rủi ro dịch bệnh.

Qua các nghiên cứu và mô hình của Dự án IMOLA  trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế [3] cho thấy,việc nuôi thủy sản thâm canh, đặc biệt là nuôi tôm, gặp rất nhiều rủi ro do dịch bệnh, ảnh hưởng của thời tiết đến sự phát triển của vật nuôi trong khi các mô hình nuôi xen ghép, quảng canh rất hiệu quả, giảm rủi ro và có lợi nhuận. CORENARM, thông qua dự án CBA/GEF Hương Phong (Mã số: CBA/VN/SPA/09/004) đã tiến hành thử nghiệm nuôi xen ghép các loài tôm sú, cá dìa, cá đối mục, cua với diện tích 2 ha cho các hộ nuôi ở thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong [4]. Kết quả thử nghiệm nuôi năm 2010 cho thấy, các hộ đều có lãi trung bình 50 triệu đồng/ ha ao nuôi. Trong khi đó, trong năm 2010 các hộ nuôi thâm canh tôm ở các ao liền kề thì do ảnh hưởng của nắng nóng và biến đổi thời tiết, số lượng tôm trong các ao nuôi chết hơn 50%, thậm chí có ao tôm chết đến 80%, dẫn đến thua lỗ. Năm 2011, thông qua Dự án CBA/GEF hương Phong, CORENARM tiếp tục thử nghiệm và nhân rộng thêm 3 hộ nuôi nữa với tổng diện tích ao nuôi là 2 ha. Kết quả thu được năm 2011 rất khả quan, tổng thu nhập của các hộ nuôi của mô hình đạt 230 triệu đồng, lợi nhuận ròng sau khi trừ chi phí đạt 35 triệu đồng/ ha ao nuôi [5].

Cá đối phát triển tốt trong các mô hình nuôi xen ghép_Ảnh: CORENARM

Trong quá trình nuôi, các thông số về nhiệt độ, độ mặn và PH của ao nuôi cũng được theo dõi. Bước đầu sau 2 năm nghiên cứu cũng như thông qua các thí nghiệm của Dự án IMOLA [3] cho thấy, nhiệt độ nước ở ao nuôi và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vật nuôi. Qua kinh nghiệm của những người NTTS và kinh nghiệm thu nhận được sau chuyến tham quan học tập các mô hình nuôi thủy sản kết hợp trồng cây ngập mặn ở Hậu Lộc – Thanh Hóa do CORENARM tổ chức năm 2010, các hộ nuôi thí điểm cho rằng, giải phải tốt nhất để giảm ảnh hưởng của nhiệt độ là trồng một số loài cây ngập mặn có lợi xung quanh khu vực ao nuôi. Đồng thời việc này cũng giúp giảm sạt lở các đê bao các ao tôm.

Qua khảo sát 54 hộ dân tại các xã Hương Phong và Hải Dương (Hương Trà) của Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn quản lý Tài nguyên (CORENARM) trong năm 2011 cho thấy, có 89% số ý kiến cho rằng trồng rừng/ cây ngập mặn giúp bảo vệ đê điều, đê bao (hồ nuôi, đê ngăn mặn), 91% số ý kiến cho rằng trồng rừng ngập mặn đem lại lợi ích về môi trường và kinh tế cho cộng đồng và 70% số ý kiến cho rằng rừng và cây ngập mặn giúp giảm những tổn thất về vật chất do thảm họa gây ra (công trình công cộng, nhà cửa, mùa màng, ao hồ nuôi thủy sản). Tuy nhiên, một số ý kiến của người nuôi trồng thủy sản được phỏng vấn cho rằng trồng cây/rừng ngập mặn làm giảm năng suất các loài nuôi ở hồ nuôi thủy sản chiếm gần 30%, gây chết một số loài thủy hải sản ở khu vực trồng chiếm 16% (và không biết chiếm 9%.) [6]. Đặc biệt, vẫn còn 60% số người được phỏng vấn sẵn sàng chuyển đổi diện tích diện tích rừng ngập mặn sang hình thức có hiệu quả kinh tế cao hơn như ao hồ nuôi thủy sản và canh tác nông nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu ở khu vực các xã nghiên cứu người dân được phỏng vấn chủ yếu làm nghề ngư nghiệp, thiếu đất sản xuất thủy sản và nông nghiệp, và quan trọng hơn họ ít được tiếp cận các thông tin tuyên truyền và giáo dục về rừng ngập mặn cũng như ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân, đặc biệt là những người sống ven biển và đầm phá. Kết quả khảo sát cũng cho biết, người dân biết thông tin về Biến đổi khí hậu thông qua Tivi (chiếm 89%), báo chí và radio (chiếm 68%) và UBND xã và lãnh đạo thôn (chiếm 57%). Riêng với xã Hương Phong, có 88% số người phỏng vấn biết thông qua CORENARM. Đây cũng là kết quả của các buổi tuyên truyền và đối thoại về Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến môi trường, kinh tế và xã hội ở khu vực đầm phá do CORENARM thực hiện.

Mặt khác, để giúp người nuôi trồng thủy sản ở xã Hương Phong có thêm nhận thức về vai trò tích cực của cây và rừng ngập mặn, CORENARM cũng đã tổ chức tập huấn về gieo ươm cây ngập mặn cho gần 25 hộ dân ở thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong. Sau tập huấn các hộ dân đã thực hành và xây dựng được một vườn ươm cho các loài như Sú, Vẹt, Trang và Đước với số lượng gần 5000 cây. Đây là thử nghiệm bước đầu và chuẩn bị cây giống cho mùa trồng rừng ngập mặn vào năm 2011.

Vườn ươm rừng ngập mặn ở Hương Phong – Corenarm_Ảnh: Sunf

Đồng thời với hoạt động này, CORENARM đã tiến hành thử nghiệm trồng các cây ngập mặn ở khu vực ao nuôi thủy sản nhằm giúp người dân tự đánh giá sự ảnh hưởng của cây ngập mặn đến sự phát triển của các loài thủy hải sản và môi trường sinh thái ở khu vực nuôi cũng như giúp nâng cao nhận thức của người NTTS đối với cây và rừng ngập mặnVới nhu cầu đó và định hướng phát triển của địa phương trong giai đoạn này, trong quý III/ 2011 vừa qua CORENARM đã phối hợp với các chủ ao nuôi ở Hương Phong tiến hành trồng thử nghiệm trực tiếp gần 2000 trụ mầm Đước có nguồn gốc từ Bình Định ven các hồ nuôi thủy sản (trong và ngoài ao) ở khu vực Cồn Tè.

Trồng thử nghiệm Đước trong các ao nuôi thủy sản_Ảnh: Sunf

Đầu quý I/2012, CORENARM sẽ tiếp tục trồng các loài khác (Sú, Vẹt và Trang) ở khu vực này. Hoạt động này nhằm thử nghiệm sự thích nghi của giống Đước di nhập từ Bình Định, giống Trang từ Thanh Hóa và để có cơ sở đối chứng với các giống được trồng ở khu vực không có ao nuôi.. Kết quả sau 2 tháng trồng thử nghiệm, có hơn 90% số trụ Đước nẩy mầm và phát triển từ 3 lá trở lên. Với mục tiêu xây dựng các mô hình ao nuôi sinh thái (nuôi thủy sản kết hợp trồng cây ngập mặn), CORENARM mong muốn xây dựng  một số mô hình điểm về các ao nuôi sinh thái trong bối cảnh biến đổi khí hậu và tạo điều kiện nhân rộng cho địa phương và các vùng lân cận liên quan.

Tài liệu tham khảo:

[1] GS, TSKH Phan Nguyên Hồng, Th.S Vũ Thục Hiền. Quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

[2] Xã Hương Phong, Kết quả thống kê đất năm 2010.

[3] Dự án IMOLA, 2010. Các báo cáo mô hình thí điểm nuôi xen ghép ở khu vực đầm phá Tam Giang- Cầu Hai. Tài liệu kỹ thuật dự án. Truy cập tại < http://www.imolahue.org&gt;

[4] CORENARM, bản tin  <http://corenarm.org.vn/?pid=119&id=356>. Kết quả bước đầu của các mô hình nuôi xen ghép tôm sú, cua và cá đối.

[5] CORENARM, 2011. Báo cáo đánh giá mô hình nuôi xen ghép năm 2011, Dự án CBA/GEF Hương Phong, tài liệu kỹ thuật dự án.

[6] CORENARM, 2011. Đánh giá nhận thức của người dân về vai trò của rừng và cây ngập mặn.

                                     Tin và ảnh: Trung tâm CORENARM: Bùi Phước Chương, Nguyễn Thị Bích Ngọc

                                                                                                                                        Bài gốc tại đây!

 
2 phản hồi

Posted by on 06.10.2011 in Lâm nghiệp, Menu

 

2 responses to “Thử nghiệm mô hình trồng cây ngập mặn ở khu vực các ao nuôi thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu

  1. cần sự giúp đỡ

    02.11.2011 at 13:48

    Xin chào,
    Chúng tôi hiện đang làm việc tại Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tình Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh BRVT. chúng tôi rất quan tâm đến việc phát triển rừng ngập mặn tại BRVT nhưng chưa biết liên hệ với đơn vị nào để tư vấn kỹ thuật.
    Qua bài viết trên, chúng tôi nghĩ rằng bạn có quen biết đơn vị có thể tư vấn giúp chúng tôi.
    rất mong nhận được phản hồi từ bạn.
    Chân thành,

    TB: bạn có thể liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại 01673356418 gặp Công hoặc email phamicoaqua@yahoo.com.vn

     
  2. Sunflower(^_^)

    13.11.2011 at 22:40

    Chào anh Công!
    Sorry vì feedback anh trễ do lâu nay Ngọc không ghé thăm blog.
    Ngọc sẽ liên lạc với anh qua email sớm nhất sau khi có thể tìm hiểu để biết ai ở phía Nam chuyên làm về mảng này. Vì TT Ngọc ở Huế.

    Rất vui vì anh đã quan tâm chủ đề này
    Thân ái

     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: